Cha mẹ nào cũng muốn con biết tự định hướng. Ít người thấy thoải mái với điều mà mong muốn đó thật sự đòi hỏi, tức là để con tự quyết, và chấp nhận rằng một số quyết định ấy sẽ sai.
Quyền tự chủ của học sinh là tên gọi của năng lực này. Đây là một trong những khái niệm được nhắc nhiều nhất trong giáo dục hiện đại, và cũng là một trong những khái niệm được hiểu thiếu chính xác nhất.
Bài viết này trình bày quyền tự chủ của học sinh là gì, không phải là gì, phát triển ra sao theo độ tuổi, và câu hỏi mà phần lớn các bài khác né tránh hoàn toàn: nó có sống được khi va vào một chương trình thi cử hay không.
Mục lục
- Những điểm chính
- Quyền tự chủ của học sinh là gì? Một định nghĩa rõ ràng
- Nền móng: niềm tin vào năng lực bản thân
- Tiếng nói, lựa chọn, làm chủ và tự lên tiếng
- Quyền tự chủ không phải là gì
- Vì sao điều này quan trọng
- Trong lớp học nó trông ra sao?
- Nó có hợp với một chương trình thi cử không?
- Khi quyền tự chủ đi sai hướng
- Đôi lời với những gia đình quen với truyền thống thi cử
- Quyền tự chủ ở từng độ tuổi
- ABCIS xây điều này thế nào
- Cha mẹ hỗ trợ ở nhà ra sao?
- Nuôi một đứa trẻ biết quyết định
- Câu hỏi thường gặp
Những điểm chính
- OECD định nghĩa quyền tự chủ của học sinh là năng lực đặt ra mục tiêu, nhìn lại và hành động có trách nhiệm để tạo ra thay đổi. Là chủ thể hành động chứ không phải đối tượng bị tác động.
- Nền móng của nó là niềm tin vào năng lực bản thân: tin rằng nỗ lực của mình thay đổi được kết quả.
- Nó dựa trên tiếng nói, lựa chọn và sự làm chủ, cùng khả năng tự lên tiếng như yếu tố thứ tư.
- Quyền tự chủ không phải sự độc lập, không phải tự do lựa chọn, cũng không phải sự tự tin. Đây là những nhầm lẫn rất phổ biến.
- Nó tương thích với thi cử, và nó là thứ học được chứ không phải bẩm sinh.
- Tại Trường Quốc tế ABC (ABCIS), năng lực này được dựng dần từ mầm non tới Sixth Form.
Quyền tự chủ của học sinh là gì? Một định nghĩa rõ ràng


Quyền tự chủ của học sinh là năng lực đặt ra mục tiêu, nhìn lại tiến trình và hành động có trách nhiệm để tạo ra thay đổi. Định nghĩa đó đến từ OECD Learning Compass 2030, trong đó mô tả năng lực này là chủ động hành động thay vì bị tác động, và góp phần định hình thay vì bị định hình.
Sự phân biệt này quan trọng. Một học sinh không có quyền tự chủ trải nghiệm trường học như một điều xảy đến với mình. Một học sinh có quyền tự chủ trải nghiệm nó như một điều chính mình đang làm.
OECD cẩn thận nói thêm rằng chưa có sự đồng thuận toàn cầu về khái niệm này, và một số ngôn ngữ không có từ dịch trực tiếp. Chúng tôi nghĩ lưu ý đó đáng được nhắc lại, bởi rất nhiều bài viết đầy tự tin về quyền tự chủ của học sinh đã che đi thực tế rằng đây vẫn là một khái niệm còn tranh cãi.
Nền móng: niềm tin vào năng lực bản thân
Quyền tự chủ không bắt đầu từ sự tự do. Nó bắt đầu từ niềm tin.
Nhà tâm lý học Albert Bandura dùng khái niệm self-efficacy, tức niềm tin của một người vào khả năng tạo ra kết quả của chính mình. Học sinh có niềm tin này cao nhìn một bài khó như một thứ để bắt tay vào làm. Học sinh có niềm tin thấp nhìn đúng bài đó như bằng chứng về giới hạn của bản thân.
Đó là lý do trao cho trẻ nhiều lựa chọn không tự động trao cho trẻ quyền tự chủ. Một đứa trẻ không tin nỗ lực của mình thay đổi được gì thì sẽ không dùng tới lựa chọn ấy. Em sẽ chờ được bảo, vì việc chờ đợi xưa nay vẫn hiệu quả còn việc thử thì không.
Niềm tin này được dựng lên từ những thành công nhỏ nhưng có thật, mà đứa trẻ quy được về nỗ lực của chính mình. Nó gắn rất chặt với kỹ năng tự nhận thức và với việc rèn luyện sự tự tin cho trẻ.
Tiếng nói, lựa chọn, làm chủ và tự lên tiếng


Quyền tự chủ đứng trên bốn năng lực gắn với nhau.
- Tiếng nói. Học sinh đóng góp ý tưởng, câu hỏi và cả sự bất đồng, rồi thấy chúng được xem xét nghiêm túc.
- Lựa chọn. Học sinh chọn chủ đề, cách làm hoặc nhịp độ, bên trong một khuôn khổ do giáo viên thiết kế.
- Làm chủ. Học sinh đặt mục tiêu, theo dõi tiến trình và nhận trách nhiệm về kết quả.
- Tự lên tiếng. Học sinh nói được câu em chưa hiểu chỗ này và biết đề nghị điều mình cần. Đây là yếu tố hay bị bỏ sót nhất, và là yếu tố quan trọng nhất khi lên đại học.
Quyền tự chủ không phải là gì
OECD ghi nhận rằng khái niệm này thường bị dùng thay cho sự tự chủ hành vi, tiếng nói hay lựa chọn, trong khi nó rộng hơn tất cả những thứ đó. Có bốn nhầm lẫn đáng làm rõ.
| Hay bị nhầm với | Vì sao quyền tự chủ khác |
|---|---|
| Sự độc lập | Một đứa trẻ có thể làm việc một mình mà vẫn không có quyền tự chủ. Độc lập là làm mà không cần giúp. Tự chủ là chọn xem điều gì đáng làm, và vì sao. |
| Tiếng nói của học sinh | Tiếng nói là được lắng nghe. Tự chủ là được lắng nghe rồi điều đó dẫn tới hành động. Một ngôi trường có thể thu thập ý kiến học sinh mà không thay đổi gì cả. |
| Tự do lựa chọn | Tự chủ không phải là vắng bóng khuôn khổ. Một đứa trẻ được trao lựa chọn vô hạn mà không có hướng dẫn thường có ít quyền tự chủ hơn chứ không nhiều hơn, vì em thiếu cơ sở để chọn cho tốt. |
| Sự tự tin | Tự tin là một cảm giác. Tự chủ là một năng lực. Một đứa trẻ tự tin nhưng chưa từng được phép quyết định điều gì thì chưa phát triển năng lực ấy. |
Vì sao điều này quan trọng
Kết luận của OECD là khi học sinh đóng vai trò chủ động trong việc quyết định học gì và học thế nào, các em thể hiện động lực cao hơn và có nhiều khả năng tự đặt mục tiêu hơn. Ở đây động lực không phải một trạng thái cảm xúc. Nó là hệ quả của việc được làm chủ.
Còn một lợi ích thứ hai ít được nói tới. Quyền tự chủ thay đổi cách một học sinh đọc một điểm số kém. Đứa trẻ không có nó nhìn điểm thấp như một phán quyết về năng lực của mình. Đứa trẻ có nó nhìn đúng điểm số ấy như thông tin về việc cần làm tiếp theo. Đó chính là khác biệt giữa một học sinh bỏ cuộc với một môn học từ lớp 9 và một học sinh thì không.
Quyền tự chủ cũng là nền cho những thói quen phân tích mà chúng tôi mô tả trong bài về kỹ năng tư duy phản biện, bởi việc chọn giữa các phương án buộc bạn phải biện minh cho lựa chọn của mình.
Trong lớp học nó trông ra sao?


Một lớp học vận hành theo quyền tự chủ không nhất thiết là một lớp học ồn ào. Thứ làm nên khác biệt là ai đang là người quyết định.
Học sinh tự dẫn dắt việc tìm hiểu
Tiết học thường mở đầu bằng một câu hỏi thay vì một lời khẳng định. Học sinh có thể hỏi nhà trường giảm rác nhựa bằng cách nào, rồi tự thiết kế một cuộc tìm hiểu để trả lời. Cách học tập khám phá này khiến công việc trở nên có ý nghĩa với chính người đang làm.
Lựa chọn bên trong khuôn khổ
Giáo viên đặt ra mục tiêu học tập. Học sinh chọn con đường. Một em có thể đọc, xem, dựng mô hình hoặc phỏng vấn để đi tới cùng một hiểu biết. Đích đến thì cố định, còn đường đi thì không.
Nhìn lại và tự đánh giá
Học sinh xem lại bài của mình trước khi giáo viên xem, chỉ ra chỗ còn yếu và lên kế hoạch cho bước tiếp theo. Nhật ký học tập, hồ sơ bài làm và các buổi trao đổi về việc học hỗ trợ điều này. Nó gắn rất chặt với những phương pháp học tập chủ động như Điểm mù mờ nhất, nơi học sinh tự gọi tên chỗ mình còn rối.
Nó có hợp với một chương trình thi cử không?
Đây là câu hỏi mà hầu hết các bài viết về quyền tự chủ của học sinh né tránh, và là câu hỏi mà phụ huynh thật sự đặt ra.
Nỗi lo ấy là hợp lý. Nếu một đứa trẻ tự chọn đường đi của mình, thì ai bảo đảm em học hết chương trình? Và chuyện gì xảy ra khi em bước vào một kỳ thi cuối cấp chẳng quan tâm em có động lực tới đâu?
Câu trả lời trung thực là thế này. Quyền tự chủ và thi cử không xung đột với nhau, nhưng chỉ khi quyền tự chủ được thiết kế cho đúng.
Câu hỏi thi ở Key Stage 4 và các bậc sau đó không chủ yếu kiểm tra khả năng nhớ. Những điểm số phân tách một bài trung bình với một bài xuất sắc được cho vì khả năng phân tích, đánh giá và phán đoán trên những tài liệu chưa từng gặp. Đó đều là những quyết định. Một học sinh chưa bao giờ phải quyết định điều gì về việc học của chính mình thì chưa từng luyện tập kỹ năng nền tảng ấy.
Điều mà quyền tự chủ không có nghĩa là nội dung học trở thành tùy chọn. Chương trình không phải một tờ thực đơn. Học sinh ở ABCIS không được chọn có học phần bắt buộc hay không, các em vẫn làm đề cũ, vẫn học kiến thức một cách tường minh và vẫn luyện tập trong điều kiện bấm giờ.
Phần được chọn nằm ở cách các em đi tới đó và ở việc các em làm gì khi thấy mình không làm được. Một ngôi trường trao quyền tự chủ mà không có khuôn khổ thì không phải đang tiến bộ. Đó là sự tắc trách, và kết quả thường sẽ cho thấy điều đó.
Khi quyền tự chủ đi sai hướng
Bất kỳ ngôi trường nào khẳng định quyền tự chủ của học sinh lúc nào cũng vận hành tốt thì đều không đang mô tả một lớp học có thật.
Hãy cho một lớp tự chọn bạn cùng nhóm và kha khá học sinh sẽ chọn bạn thân nhất của mình. Một số cặp trong đó sẽ làm được rất ít. Giáo viên sẽ dễ kết luận rằng thử nghiệm đã thất bại và lần sau nên phân nhóm sẵn.
Chính kết luận đó mới là sai lầm thật sự. Cặp đã chọn tệ và làm được ít đã học được điều gì đó về hậu quả mà không cách phân nhóm nào dạy nổi, với điều kiện giáo viên giúp các em nhìn lại chuyện đó sau đó thay vì chỉ ra tay giải cứu.
Có ba kiểu thất bại đáng được gọi tên một cách thẳng thắn:
- Tê liệt vì quá nhiều lựa chọn. Quá nhiều phương án đưa ra quá sớm sẽ làm ngợp một đứa trẻ chưa từng phải chọn. Hãy bắt đầu bằng hai lựa chọn, không phải hai mươi.
- Tự chủ hiểu thành bỏ mặc. Lùi lại một bước không giống với rời đi. Một giáo viên trao lựa chọn rồi không hướng dẫn gì thì không phải đã trao quyền tự chủ, mà là đã giữ lại phần dạy.
- Em tự tin nhất lấn át. Tiếng nói không có cấu trúc thường khuếch đại người vốn đã nói nhiều nhất. Quyền tự chủ thật sự cần những cấu trúc khiến tiếng nói của em ít nói cũng có trọng lượng.
OECD gọi phương án thay thế là co-agency, tức học sinh, giáo viên và phụ huynh cùng là người kiến tạo. Quyền tự chủ được chia sẻ chứ không phải giao phó hết.
Đôi lời với những gia đình quen với truyền thống thi cử
Nhiều gia đình tại Thành phố Hồ Chí Minh lớn lên trong những hệ thống nơi thầy cô quyết định và học sinh làm theo. Hệ thống đó đã tạo ra rất nhiều người có năng lực, kỷ luật và thành đạt, trong đó có không ít phụ huynh đang đọc bài này.
Nên câu hỏi liệu quyền tự chủ của học sinh có phải chỉ là một cách nói nhẹ đi cho một ngôi trường ít kỳ vọng hay không là câu hỏi chính đáng.
Câu trả lời là không, và sự khác biệt này kiểm chứng được. Hãy hỏi một ngôi trường xem chuyện gì xảy ra khi học sinh chọn sai. Trường ít kỳ vọng sẽ nói lựa chọn đó được tôn trọng. Trường kỳ vọng cao sẽ mô tả học sinh sau đó buộc phải làm gì với lựa chọn ấy.
Quyền tự chủ không có nghĩa là đòi hỏi ít đi ở một đứa trẻ. Nó có nghĩa là đứa trẻ được kỳ vọng phải tự nhận trách nhiệm đáp ứng những đòi hỏi ấy, thay vì được bế tới đích.
Quyền tự chủ ở từng độ tuổi
Hình hài của quyền tự chủ thay đổi khá nhiều khi trẻ lớn lên. Năng lực thì vẫn thế. Tầm vóc của quyết định thì không.
Mầm non: lựa chọn trong sự an toàn
Quyền tự chủ bắt đầu từ những quyết định nhỏ nhưng có thật. Trẻ chọn hoạt động, nhận vai trong trò chơi tưởng tượng và tự giải quyết những vướng mắc nhỏ mà không cần người lớn nhảy vào. Quyết định thì nhỏ. Thói quen thì không.
Tiểu học: trách nhiệm
Học sinh chọn chủ đề dự án, chọn cách trình bày ý tưởng, và bắt đầu đặt mục tiêu rồi tự soi lại tiến trình so với mục tiêu đó. Đây là lúc việc nhìn lại trở thành một kỹ năng được dạy chứ không còn là chuyện tình cờ.
Trung học: tự dẫn dắt việc học của mình
Học sinh đưa ra những quyết định thật về môn học và hướng đi, với hậu quả kéo dài, tự quản những dự án lớn và dẫn dắt các hoạt động. Tới Sixth Form, các em đang đặt những mục tiêu dài hạn định hình cả hồ sơ vào đại học.
ABCIS xây điều này thế nào


Tại Trường Quốc tế ABC (ABCIS), chúng tôi xem quyền tự chủ là thứ được dựng theo từng giai đoạn chứ không phải trao một lần là xong. Lớp học của chúng tôi có cấu trúc, kỳ vọng của chúng tôi rõ ràng, và bên trong khuôn khổ đó, học sinh quyết định rất nhiều.
Vài chỗ điều này thể hiện rõ nhất:
- Mô phỏng Liên Hợp Quốc (MUN). Học sinh tự nghiên cứu và bảo vệ lập trường theo hướng của chính mình, tự đàm phán, và không được giải cứu khi một nghị quyết thất bại.
- House Teams. Dalat Dragons, Hanoi Hornets, Mekong Monsters và Saigon Serpents đều do học sinh dẫn dắt. Học sinh lớn lên kế hoạch, tổ chức và nhận hậu quả khi chưa làm tới nơi.
- International Award. Chương trình phỏng theo Duke of Edinburgh dành cho lớp 9 đến 13 yêu cầu học sinh tự đặt mục tiêu ở các phần kỹ năng, phục vụ cộng đồng và thể chất, rồi tự chứng minh tiến bộ của mình.
- Chọn môn ở Sixth Form. Học sinh chọn ba hoặc bốn môn A Level sẽ định hình các lựa chọn ngành học sau này. Chúng tôi tư vấn. Các em quyết định.
Chúng tôi đo chứ không mặc định. CAT4 và GL Assessment cho phép chúng tôi thấy một học sinh có đang học đúng với năng lực hay không, để một em lặng lẽ mất kết nối được nhận ra chứ không bị nhầm thành một em đang tự học tốt.
Chúng tôi giữ bốn kỳ thanh tra BSO Outstanding liên tiếp, gần nhất là tháng 1 năm 2024. Mỗi năm, hơn 95% học sinh tốt nghiệp của chúng tôi vào học tại các trường đại học trên khắp thế giới. Sĩ số nhỏ là thứ khiến điều này khả thi: quyền tự chủ cần một người thầy biết lúc nào lựa chọn của học sinh cần được đặt câu hỏi ngược lại.
Cách chúng tôi xây dựng môi trường học tập tích cực giải thích những điều kiện làm nên chuyện này.
Hãy tìm hiểu cách ABCIS nuôi dưỡng quyền tự chủ của học sinh ở từng chặng trong hành trình của con bạn. Liên hệ với chúng tôi hôm nay để biết thêm hoặc đặt lịch tham quan trường.
- Cơ sở Trung Sơn: #152-158, Đường số 1, Trung Sơn, xã Bình Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
- Cơ sở Nhà Bè: #2, Đường số 9, Tân An Huy, xã Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
- Điện thoại: +84 (0)28 7308 1828
- Email: office@theabcis.com
Cha mẹ hỗ trợ ở nhà ra sao?


Ba thói quen mang lại phần lớn hiệu quả.
- Trao những lựa chọn thật. Hãy để con lên thực đơn một bữa hoặc sắp xếp một ngày cuối tuần. Nếu lựa chọn chỉ là dàn dựng, con sẽ nhận ra ngay.
- Kìm lại đừng sửa hộ. Khi con gặp vướng mắc, hãy hỏi con định thử cách nào trước khi đưa ra đáp án. Khoảng lặng đó khó chịu với bạn và có ích cho con.
- Để một số lựa chọn thất bại. Một quyết định tệ với hậu quả nhỏ, kèm một cuộc trò chuyện sau đó, dạy được nhiều hơn một quyết định đúng mà bạn làm thay con.
Nuôi một đứa trẻ biết quyết định
Quyền tự chủ của học sinh không phải sự nới lỏng tiêu chuẩn. Đó là sự chuyển giao trách nhiệm đáp ứng những tiêu chuẩn ấy, làm dần dần và được nâng đỡ suốt chặng đường.
Cách tốt nhất để biết một ngôi trường có nói thật hay không là hỏi xem chuyện gì xảy ra khi học sinh chọn sai. Hãy đặt lịch tham quan trường và hỏi thẳng chúng tôi câu đó.
Câu hỏi thường gặp
Quyền tự chủ của học sinh nghĩa là gì?
Quyền tự chủ của học sinh nghĩa là người học chủ động định hình việc học của chính mình qua lựa chọn, tiếng nói và sự làm chủ. Thay vì thụ động làm theo chỉ dẫn, trẻ góp phần quyết định học gì và học thế nào.
Có thể bắt đầu từ mấy tuổi?
Quyền tự chủ có thể bắt đầu từ khi trẻ mới ba hoặc bốn tuổi. Trẻ nhỏ thực hành nó qua chơi, qua việc được chọn và qua những quyết định đơn giản. Nó lớn lên một cách tự nhiên theo tuổi và theo sự đồng hành.
Nó khác gì với sự độc lập?
Độc lập là làm mọi việc một mình, còn tự chủ là đưa ra những lựa chọn có mục đích về việc học. Một đứa trẻ có thể độc lập mà chưa thật sự có quyền tự chủ. Tự chủ bao gồm cả việc nhìn lại, đặt mục tiêu và nhận trách nhiệm.
Vậy có phải là để trẻ muốn làm gì thì làm không?
Không, quyền tự chủ vận hành bên trong những ranh giới và kỳ vọng rõ ràng. Giáo viên và cha mẹ vẫn dẫn dắt việc học. Tự chủ nghĩa là trẻ đưa ra những lựa chọn có ý nghĩa bên trong một khuôn khổ giàu nâng đỡ.
Nó giúp gì khi con lên đại học?
Đại học kỳ vọng những người học biết tự định hướng, biết nhìn lại và tự quản được việc học của mình. Học sinh có quyền tự chủ vững thì đã sẵn những thói quen ấy. Các em chuyển tiếp mượt mà và học tốt ở bậc cao hơn.









































